
Tết, với người Việt, đôi khi không bắt đầu từ pháo hoa hay lời chúc, mà bắt đầu từ căn bếp. Chỉ cần chạm vào đúng một mùi quen thuộc, ký ức đã ùa về: mùi nếp mới từ nồi bánh chưng đang sôi, mùi hành muối, hay cái thơm thoang thoảng của lá dong tươi vừa được rửa sạch, đặt lên mâm chuẩn bị gói. Những thứ ấy không ồn ào, nhưng lại làm nên “phong vị Tết” theo cách rất Hà Nội, rất Việt Nam: chậm rãi, tinh tế, và đầy tình.
Nếu Tết có “bộ nhận diện” riêng, thì có lẽ nó không chỉ nằm ở sắc đào hay câu đối đỏ, mà nằm sâu trong những nguyên liệu tưởng bình thường, nhưng lại giữ linh hồn mâm cỗ ngày đầu năm. Trong số đó, miến và lá dong gần như là hai thứ “có mặt đúng lúc” trong mọi căn bếp dịp Tết: miến góp mặt trong bát canh nóng hổi, lá dong gói trọn chiếc bánh chưng xanh.
Nhưng để có một sợi miến trong veo hay một chiếc lá dong xanh mướt, là cả một hành trình phía sau, bắt đầu từ những ngôi làng ngoại thành Hà Nội, nơi tháng Chạp là mùa bận rộn nhất năm.
Cự Đà – Hương vị Tết trong những phên miến phơi kín sân
Những ngày cuối năm, xưởng miến của chị Đinh Thị Loan ở làng Cự Đà (xã Bình Minh, Hà Nội) đỏ lửa từ sáng tới tối. Vào vụ Tết, miến được làm liên tục để kịp giao cho các mối quen trong và ngoài thành phố. Có ngày cao điểm, xưởng có thể cho ra lò từ 8 tạ đến 1 tấn miến.
Trong nhịp làm việc gấp gáp ấy, chị Loan không nói nhiều về “Tết”, nhưng nhìn cách cả gia đình cùng vào cuộc, người xay bột, người tráng, người phơi, người bó… đã đủ hiểu Tết đang hiện hữu ở đây theo cách rất riêng. Với chị, từng mẻ miến không chỉ là sản phẩm, mà là kết quả của một nghề đã gắn bó qua nhiều thế hệ. Chị cũng coi vụ Tết là lúc nghề truyền thống bước vào giai đoạn “đẹp nhất”: vừa bận rộn, vừa đủ đầy, vừa gói ghém cảm giác sum vầy.

Miến ở Cự Đà không làm bằng sự vội vàng. Từ khâu chọn củ dong, xay bột, tráng bánh đến phơi sợi, mỗi công đoạn đều cần kinh nghiệm lâu năm. Người làm nghề còn “trông” trời, bởi thời tiết hanh khô cuối năm được xem như điều kiện thuận lợi để miến khô đều, tạo độ trong và dai tự nhiên. Nói cách khác, chất lượng của miến không chỉ nằm trong tay nghề, mà còn nằm trong nhịp mùa, trong khí hậu, trong sự kiên nhẫn.
Nhắc về chiều dài của làng nghề, ông Đinh Công Minh, người phụ trách làng nghề tương và miến Cự Đà cho biết nghề làm miến ở đây hình thành và phát triển bài bản từ những năm 1950–1960, dần trở thành nghề truyền thống. Ông cũng kể lại rằng có thời điểm toàn làng có hơn 100 hộ tham gia sản xuất miến dong. Tuy nhiên, dưới tác động của thị trường, đô thị hóa và những yêu cầu ngày càng khắt khe trong sản xuất, đến nay làng chỉ còn 14 hộ duy trì nghề.

Quy mô thu hẹp, nhưng với những hộ còn bám trụ, nghề làm miến không chỉ còn là kế sinh nhai. Đó còn là trách nhiệm giữ một giá trị văn hóa. Và chính sự bền bỉ ấy đã giúp miến dong Cự Đà vẫn giữ được chỗ đứng trong đời sống ẩm thực Hà Nội, đặc biệt mỗi dịp Tết đến Xuân về.
Từ những củ dong riềng thô mộc, sợi miến phơi mình dưới nắng đông hanh khô rồi theo chân những chuyến hàng đi khắp phố phường. Ngày Tết, miến hiện diện trong mâm cỗ gia đình, trong nồi canh nóng bên bếp lửa. Mỗi sợi miến vì thế không chỉ là thành quả lao động, mà còn là hương vị của ký ức, của sum họp, của một làng nghề vẫn cố gắng không bị lãng quên giữa nhịp sống hiện đại.
Tràng Cát – Tết gõ cửa bằng màu xanh ruộng lá dong
Nếu ở Cự Đà, Tết hiện lên bằng “tấm thảm vàng” của những phên miến phơi kín sân, thì ở Tràng Cát (xã Thanh Oai, Hà Nội), Tết đến bằng màu xanh mướt.
Với người dân Tràng Cát, Tết gõ cửa từ tháng Chạp. Không cần sắc thắm của đào hay sắc chín mọng của quất, chỉ cần nhìn những ruộng lá dong được chăm chút kỹ lưỡng là đã thấy mùa xuân đang đến rất gần.
Bà Nguyễn Thị Tuất (thôn Tràng Cát) chia sẻ rằng từ mùng 2 tháng Chạp, người dân đã bắt đầu bước vào vụ cắt lá. Có những ngày cao điểm, bà con phải cắt đến 12 giờ đêm mới xong việc. Những nhát cắt lá trong đêm muộn ấy giống như nhịp đập tháng Chạp của một làng nghề: lặng lẽ, vội vã, nhưng đầy quyết tâm.

Người Tràng Cát không chỉ trồng lá dong ngoài đồng mà còn tận dụng cả những khoảnh vườn trước nhà để trồng. Chỉ cần lấy gốc dong trồng một lần, người dân có thể thu hoạch cho nhiều năm sau. Lá dong có thể thu hoạch quanh năm, nhưng tháng Chạp là đợt cắt tỉa chính và cũng là thời điểm đem lại lợi nhuận nhiều nhất.
Ông Nguyễn Vũ Quang (thôn Tràng Cát) cho biết lá dong loại 1 phải đảm bảo bề rộng, không cháy, không rách. Điểm đặc biệt của lá dong Tràng Cát là giống lá dong nếp, khi luộc bánh cho màu xanh tự nhiên. Ông cũng nhấn mạnh hiệu quả kinh tế của nghề này: một sào lá dong có thể đem lại thu nhập khoảng 20 triệu đồng, cao hơn nhiều loại cây trồng khác.
Năm nay, lá dong Tràng Cát được mùa, lá đẹp, giá bán ổn định nên nhiều gia đình có thể đón một cái Tết đủ đầy hơn. Lá loại 1 được bán phổ biến trong khoảng 120.000 – 130.000 đồng/100 lá, còn loại đặc biệt có thể lên tới 170.000 đồng/100 lá.

Ở một góc khác, bà Phạm Thị Loan (thôn Tràng Cát) lại nói về nghề theo kiểu rất “thực tế” và đầy kinh nghiệm: lá dong sau khi chở về sẽ được dấp nước rồi đắp đống, làm tới đâu soạn tới đó để giữ được lâu, có thể dùng đến tận Tết, thậm chí qua Tết vẫn không sợ hỏng. Cách giữ lá ấy vừa là kỹ thuật, vừa là thói quen truyền đời của người trồng lá.
Bà Phạm Thị Chín (thôn Tràng Cát) chia sẻ rằng những ngày rảnh rỗi, bà tranh thủ đi soạn lá, riêng tháng này cũng có thể thu nhập khoảng 6 triệu đồng. Câu chuyện của bà khiến người ta thấy rõ: Tết không chỉ là mùa tiêu dùng, mà còn là mùa lao động mang lại sinh kế cho nhiều người.

Nằm trong vùng bãi bồi sông Đáy với đất màu mỡ, khí hậu ôn hòa, lá dong Tràng Cát tạo nên hương vị và màu sắc đặc biệt cho bánh chưng ngày Tết. Không chỉ nổi tiếng trong nước, lá dong Tràng Cát còn được xuất khẩu, phục vụ nhu cầu gói bánh chưng Tết của bà con Việt Nam ở nhiều nơi trên thế giới.
Bà Nguyễn Thị Chính, Phó Chủ tịch UB MTTQ và Chủ tịch Hội Nông dân xã Thanh Oai, cho biết thôn Tràng Cát có khoảng trên 400 hộ làm nghề trồng lá dong truyền thống với tổng diện tích khoảng 30 ha. Theo bà, nghề trồng lá dong mang lại giá trị kinh tế cao vì chi phí thấp, công lao động phù hợp với phụ nữ và người cao tuổi. Điều quan trọng hơn, các hộ gia đình đều mong muốn duy trì nghề để ổn định cuộc sống và lưu lại một nét đẹp văn hóa truyền thống qua nhiều đời.

Mỗi dịp Tết đến Xuân về, bánh chưng vẫn là món ăn không thể thiếu trong mỗi gia đình Việt. Và để có những chiếc bánh chưng vuông vắn, xanh tự nhiên, thơm dền khi luộc chín, không thể thiếu những chiếc lá dong Tràng Cát. Từ cánh đồng và mảnh vườn ở Tràng Cát, hương vị Tết theo những chuyến hàng đi khắp mọi miền, góp phần làm phong vị bánh chưng truyền thống thêm trọn vẹn.
Khi mùa xuân được chuẩn bị từ rất sớm
Nếu nhìn kỹ, miến và lá dong giống như hai “mạch ngầm” của ẩm thực Tết Việt. Miến dong Cự Đà đi vào mâm cơm bằng sự giản dị và thanh nhẹ, hiện diện trong canh miến mọc, miến gà, nem rán, những món không phô trương nhưng thiếu là thấy bữa Tết kém đi một nửa độ tròn đầy. Lá dong Tràng Cát thì lặng lẽ ôm lấy bánh chưng, làm nên sắc xanh, mùi thơm, cảm giác “đúng Tết” mà nhiều người chỉ cần nhìn thôi đã thấy yên tâm.

Hai chuyến đi, hai ngôi làng, nhưng chung một nhịp: nhịp tháng Chạp. Nhịp xưởng miến chạy hết công suất. Nhịp ruộng lá dong cắt đến khuya. Nhịp soạn từng bó lá để kịp chuyến hàng. Và nhờ những nhịp lao động ấy, Tết của chúng ta trước khi bước vào nhà đã đi qua rất nhiều bàn tay.
Thành ra đôi khi, Tết không cần nói nhiều. Chỉ cần một bát canh miến nóng, một chiếc bánh chưng xanh, là đủ thấy có người đã âm thầm chuẩn bị mùa xuân giúp mình từ rất sớm. Và cũng bởi vậy, khi thưởng thức những món ăn Tết, điều quý nhất không chỉ là ngon, mà là cảm giác được nối lại với truyền thống, nối lại với nếp nhà. Một mùa Tết trọn vẹn, cuối cùng, luôn được gói lại bằng những điều giản dị nhất: sự cần mẫn, sự tử tế, và sự gìn giữ.
Xem đầy đủ chương trình Hà Nội 18h tại đây.

