Phiên chợ tháng Chạp và cuộc hẹn với mùa xuân

The current image has no alternative text. The file name is: phien-cho-tet-song-thao-5_result.jpg

Những ngày đầu tháng Chạp. Đất trời mới vừa chạm ngõ tháng cuối cùng của năm, nhưng nếu ghé những phiên chợ quê lúc này, ta đã thấy hơi thở của Tết bắt đầu len lỏi. Không phải cái hối hả của những ngày sát Tết, chợ quê những ngày đầu tháng Chạp mang một vẻ thư thái rất riêng. Người ta đi chợ không chỉ để sắm sửa, mà để ngắm nhìn những tệp giấy đỏ vừa được bày ra, để hít hà mùi hương trầm thoang thoảng, và để cảm nhận cái nhịp sống đang dần chuyển mình chuẩn bị cho một cuộc “hồi sinh” của mùa xuân. Ở ngoại thành Hà Nội, Tết không bắt đầu từ tiếng nhạc rộn ràng trong siêu thị. Tết bắt đầu từ tiếng gà gáy canh ba, từ bước chân khẽ trên mặt đường làng còn ướt sương, từ những gánh hàng rì rầm gọi nhau và từ một nếp chợ cứ đều đặn mà sống như cách người ta giữ một ký ức để đi qua năm tháng.

“Muốn ăn cơm trắng, cá trê. Muốn mua nón tốt thì về làng Chuông.” Câu ca dao ấy không chỉ là lời rủ rê, mà giống như một tấm bản đồ cảm xúc dẫn ta về Làng Chuông (Thanh Oai), nơi mỗi phiên chợ nón vẫn họp từ tảng sáng các ngày mồng 4, 10, 14, 20, 24, 30 âm lịch. Dưới sân đình, từ khi trời còn mờ như một lớp lụa, các bà, các mẹ, các chị đã bày nón, bày lá, bày sợi cước và cả những thứ nhỏ nhặt mà nếu không làm nghề, có lẽ chẳng ai biết tên. Người bán đứng bên sản phẩm độc đáo của quê mình với một vẻ bình thản đáng nể, như thể đã quen với việc trao cho đời một thứ đẹp đẽ mà không cần phô trương. Điều thú vị là những ngày tháng Chạp, chợ nón làng Chuông lại bán chậm hơn ngày thường. Cận Tết, nhu cầu đội nón không nhiều. Tưởng chừng chợ sẽ vắng, nhưng không, phiên chợ vẫn rộn ràng theo một cách khác: rộn ràng bởi người ta đi chợ không hẳn để mua, mà để gặp, để nhìn, để chạm vào một “mùi Tết” rất riêng của vùng quê đồng bằng. Nghệ nhân Lê Văn Tuy, người gắn bó cả đời với nón, nói một câu vừa giản dị vừa sâu: nghề ở đây sống được là nhờ cái “nếp” – nếp làm, nếp chợ, nếp người. Nếp ấy giữ cho làng nghề không bị trôi tuột trong dòng chảy hiện đại.

Khi trời tảng sáng, chợ nón tan dần, nhường chỗ cho chợ dân sinh. Vẫn là sân đình ấy, nhưng hàng hoá đổi khác: rau cỏ, thịt cá, đồ gia dụng, gia vị, mứt bánh. Chợ Chuông vì thế mang cảm giác như một sân khấu đổi màn liên tục, còn người làng thì đổi vai. Xưa kia chợ Chuông là chợ lớn nhất trong vùng, ngày nay vẫn vậy. Chợ kéo dài từ trong đình ra tới các con ngõ, rồi lan lên tận chân đê sông Đáy. Những ngày tháng Chạp, tiểu thương từ khắp nơi tụ về. Khách thập phương từ các xã lân cận đến chợ theo thói quen, mua sắm Tết một ít rồi đứng lại ngắm một nhiều. Chị Nguyễn Thị Quỳnh, chị Hà Thanh Tâm kể về chuyện đi chợ với một giọng rất đời: tháng Chạp không chỉ là mua bán, tháng Chạp là thời điểm ai cũng tự nhiên trở nên “có tâm” hơn với bữa cơm nhà, với bộ quần áo mới của con, với một chút quà cho bố mẹ. Người ta sắm sửa như thể đang gom góp niềm vui, chia ra từng túi nhỏ để mang về. Đi giữa chợ Chuông, nhìn những chiếc nón xếp thành từng lớp, bất giác thấy Tết Việt cũng giống một chiếc nón: mỏng manh nhưng bền, nhẹ nhưng che được nắng mưa, đẹp nhất khi thuộc về một bàn tay khéo léo và kiên nhẫn.

Tồn tại qua hàng thế kỷ, chợ phiên đã trở thành một nếp sinh hoạt ăn sâu vào tiềm thức của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Một nét đặc trưng là họp chợ sớm tinh mơ, từ khi gà gáy canh ba. Ngoại thành Hà Nội có những phiên chợ vẫn giữ nguyên giờ giấc ấy, như một chiếc đồng hồ cổ chưa bao giờ sai. Phiên chợ Nủa (xã Tây Phương) họp vào các ngày 2, 7, 12, 17, 22, 27 âm lịch. Tháng Chạp, nhu cầu đi chợ tăng cao, bốn giờ sáng các tiểu thương đã nhanh chóng dọn hàng, đón khách. Bà Nguyễn Thị Hoà nói chuyện đi chợ như nói về một nghi lễ quen thuộc: cứ đến phiên là dậy, cứ thấy sương là thấy Tết. Chợ Nủa chủ yếu bán nông sản, vật nuôi, đồ dùng gia đình như chiếu cói, chổi tre, nón lá, quần áo, tăm đũa tre, gia vị, nông cụ. Những món đồ gắn bó với thôn quê, nhìn vào đã thấy đời sống rất thật. Anh Lê Phúc từ Hà Đông về chợ bảo rằng anh đi chợ Nủa để tìm lại “mùi quê”, thứ mùi phố thị không có: mùi rơm rạ lẫn trong gió, mùi rau mới nhổ, mùi đất ẩm và cả cái mùi người ta đối đãi với nhau chân chất, không vội vã.

Nhưng Tết hôm nay cũng có một dòng chảy khác. Những “phiên chợ” không còn nhất thiết phải ở sân đình, chân đê hay ngã ba đường làng. Giữa đô thị, vẫn có những nơi người ta dựng nên một không gian để truyền thống được sống lại. “Tết thu nhỏ” là một cuộc gặp gỡ như thế. Ở đó, nghề khắc in mộc bản Thanh Liễu hiện diện như một chứng nhân của thời gian, với lịch sử hơn 500 năm và những ván in mộc bản quý giá từng được UNESCO ghi danh. Giữa không gian ấy, những người thợ thủ công kiên nhẫn giới thiệu từng sản phẩm, kể câu chuyện về nghề, về cái Tết của làng quê Bắc Bộ. Nghệ nhân Nguyễn Công Đạt nói về mộc bản như nói về một loại ký ức có thể cầm nắm: mỗi vệt dao khắc xuống gỗ giống như một cách giữ lại thời gian cho thế hệ sau. Và dĩ nhiên, Tết xưa hay nay cũng không thể thiếu bánh chưng xanh: lá dong, gạo nếp, đỗ xanh, thịt ba chỉ, những đôi tay trẻ lần đầu buộc lạt. Chị Nguyễn Khánh Linh của Ban tổ chức nói điều quý nhất không phải chiếc bánh đẹp hay xấu, mà là khoảnh khắc người ta ngồi xuống, làm một việc thủ công bằng cả sự chú tâm để Tết đi vào người theo cách sâu hơn. 

Nhìn từ chợ Chuông, chợ Nủa cho tới “Tết thu nhỏ”, có thể thấy Tết của người Việt luôn có một hành trình kỳ lạ: vừa ở ngoài chợ, vừa ở trong ký ức. Và đôi khi, Tết không cần nói nhiều. Chỉ cần một buổi sớm đi chợ, nhìn thấy giấy đỏ, hít mùi hương trầm, nghe tiếng gà gáy canh ba, ta cũng đủ hiểu mùa xuân đang đến rất gần, rất thật, và rất Việt Nam.

Xem đầy đủ chương trình Hà Nội 18h tại đây.

Bình luận về bài viết này