Viết nhân 49 ngày bố ra đi

Ngồi viết vài thứ nhân 49 ngày bố mất. Dùng “nhân dịp mất” có lẽ đây là một trong những cách dùng từ dễ gây tranh cãi nhất. Tôi nhận ra điều này sau 49 ngày mất bố, với những nhạy cảm mong manh của một người còn chưa kịp lành hẳn và vừa phải đối diện với đủ thứ eo sèo của cái mà người Việt gọi ngắn gọn là “ma chê cưới trách”.
Mới ngay đây thôi, mình đã có một khoảng thời gian dài sống và làm việc ở Vũng Tàu hơn mình nghĩ. Một phần để bình ổn lại sau biến cố, được làm việc từ xa, và quan trọng nhất là gần mẹ hơn – gần điểm tựa duy nhất của ta thời thơ bé mà lớn lên ta hay quên mất cùng những thứ vướng chân. Mình ở đây cho ngày lễ 49 ngày của Bố, rồi sau đó sẽ đưa hũ cốt của Bố về quê Thanh Hoá. Tựa như đó là một phép thử cho những chương tiếp theo của cuộc đời mình – một lời nhắc rằng các biến số của đời người phức tạp và khó lường hơn ta tưởng tượng. Tôi không định bụng viết nhật ký, hay tuỳ bút, hay bất cứ thể loại nào cụ thể. Mà đơn giản là được ngồi gõ những ký tự đang tuôn ra từ trong đầu mình, để nó tự tìm ra hình dạng của mình. Và cũng để tập lại thói quen viết ít lý trí của ngày xưa – thói quen đang bị đe doạ bởi thói quen mới và AI.
À, tôi đang nói dở về sự nhạy cảm hơn của tâm hồn mình đứng trước biến cố này. Bạn sẽ nhạy cảm hơn thôi, khi góc nhìn về cái chết giờ phồn thực hơn – từ các nghi lễ mà tôn giáo, lề thói và lối sống tạo ra sau hàng ngàn năm. Có lúc mình buột miệng giữa bữa cơm trưa ngày trước khi đưa bố về quê: “Chết là hết!” Nó như một lời thở than với mẹ và dì ngồi bên cạnh – những người cũng đã cùng mình trải qua và nhận diện những mất mát ấy. Mọi người im. Có những câu nói mà người ta cần cả một đời, hay đến khi chính mình trở thành người “bị mất”, mới thật sự hiểu hết.
Hành trình đời người, trong nhận thức của mình, là một thế giới của những thứ thực tế cứa xé người ta đau thật – và cả một thế giới được tưởng tượng, được vẽ nên bởi văn hoá, tôn giáo và nhiều yếu tố con người khác. Bố tôi chọn văn hoá Phật Giáo và nếp Á Đông cho cách ra đi. Bố được đọc kinh trong suốt tang lễ, chính thức xuất gia theo Phật với một pháp danh rất đẹp và không hiểu sao rất hợp với bố – Thiện Tài. Hành trình đó có những quy tắc riêng: lúc các con ôm di ảnh, bát hương, sẽ tuyệt đối không nhìn lại phía sau trong suốt hành trình dài đến tận nghĩa trang. Lý do là “hương linh” nhìn lại nhà mình sẽ thương nhớ không nỡ rời đi. Một tưởng tượng thật sự đẹp và nhân văn.
“Ta sẽ mang theo gì sang bên kia thế giới?”
Đó hẳn sẽ là những ký ức đẹp của kiếp nhân sinh – được cậu con trai lớn đã ngoài 40 ngồi gõ những dòng này và nhớ đến ông với hai hàng nước mắt lăn dài trên má. Trong dòng ký ức của mẹ tôi – một người chọn làm vợ bố full time – là một câu chuyện tình cảm động và đẹp sau bao nhiêu năm mà tôi ước ao cũng không bao giờ có được. Trong những lúc cậu Út ngắm bầu trời, nhớ bố giữa những lúc âm nhạc nhảy múa trong đầu. Trong các câu chuyện của anh em, bạn học, đồng đội – và nhiều những mối quan hệ phức tạp khác mà khi làm người ta may mắn có được.
Ngày thứ 50 – một ngày sau lễ 49 ngày – mình ngồi đọc lại học bạ của bố để nhớ lại hành trình đi học của bố ngày xưa. Ngày 51, bố lên Sài Gòn, bay ra Thanh Hoá, rồi xe về quê từ sân bay Thọ Xuân. Những địa danh đó sẽ còn vang trong đầu người ở lại mãi – như cách tiếng Việt dùng từ “mất” để nói về một con người: không thể thấy lại nữa, nhưng vẫn luôn hiện diện trong ký ức của nhiều người. Đọc những dòng học bạ, mình nhận ra ký ức của sự trưởng thành, bền chí – và cả của một chàng trai trẻ học lệch, hay ham chơi. Dù đó có là thật hay chỉ là võ đoán của người sống, mình tin rằng mọi ký ức và trải nghiệm trong hành trình sự sống này đều là một món quà. Cảm ơn bố đã dành cho con bài học thật quý này ở “thất thứ bảy” của hành trình ra đi này…
Nhớ bố nhiều!

Bình luận về bài viết này