Chiếc ca-nô rẽ sóng xé toạc màn nước xanh thẫm của vịnh Côn Sơn trong một buổi sáng khi mặt trời còn chưa tỏ. Để lại sau lưng những con phố rợp bóng bàng cổ thụ của đảo lớn, và cả nhiều thứ danh phận mà mình nặng đeo nơi cuộc sống bộn bề. Tôi cất chiếc thẻ nhà báo sâu vào đáy ba lô, tự dặn lòng mùa hè này mình không đến đây với tư cách một người quan sát cầm bút ghi chép, mà chỉ đơn giản là một kẻ học việc của đại dương. Trở thành tình nguyện viên của Vườn quốc gia Côn Đảo và Tổ chức Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên (IUCN) đồng nghĩa với việc bạn nhận lấy một đặc ân: sự tin tưởng tuyệt đối để bước chân vào những hòn đảo hoang sơ đến mức gần như biệt lập hoàn toàn với đời sống du lịch tiện nghi, nơi chỉ có sóng gió, rừng nguyên sinh và những người kiểm lâm thầm lặng.

Điểm đến của chúng tôi là Hòn Tre Lớn chính là dải đất nhỏ nửa xanh thẳm bóng rừng gai góc, nửa trải cát trắng phơi mình trước đại dương. Và lúc đầu khi phải chọn giữa các điểm đến khác nhau thì mình đã note lại một chi tiết, đó là nơi đây là nơi có thể ngắm được cả bình minh và hoàng hôn ở cùng một điểm do hình dáng thú vị của nó. Và vốn là một kẻ say mê những khoảnh khắc chạng vạng thì đây chính là một lựa chọn quá hợp lý. Nếu theo như format của Gia đình Haha thì tôi sẽ phải cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc với những người bạn đồng hành. Và đồng hành cùng tôi trong chuyến đi 12 ngày này là ba gương mặt trẻ, mỗi người mang một ngã rẽ riêng của đời sống phố thị. Minh Hiếu là một chàng trai làm nội dung số, một TikToker suốt ngày sống trong guồng quay của thuật toán nhưng ẩn sâu bên trong là sự tò mò không dứt về thế giới nguyên bản. Hương Giang – cô gái freelancer trẻ tuổi, mang dáng dấp của những người trẻ đang chênh vênh tìm kiếm tọa độ của chính mình giữa muôn vàn lối rẽ. Và Thùy Linh – giảng viên, bác sĩ y học cổ truyền đến từ Hà Nội, người luôn mang trong mình những đau đáu, dằn vặt trầm mặc rất riêng của một thế hệ trí thức trẻ trước nhịp sống hiện đại. Bốn kẻ xa lạ, gom góp những trăn trở của đất liền, để tình cờ cùng bước lên một chiếc ca nô để cùng nhau ra với đảo hoang.



Bữa cơm “thiếu thịt” và bài học đầu tiên về sự vừa đủ
Hòn Tre Lớn đón chúng tôi bằng một thử thách trớ trêu. Hành trình từ đảo lớn ra Hòn Tre Lớn khá dài, trong cùng một chuyến ca-nô thì chở cả chúng tôi và các bạn tình nguyện viên ở Hòn Tài, và phải ghé qua Hòn Tài để trung chuyển và dỡ đồ. Trong lúc tất bật bốc xếp thực phẩm dự trữ cho gần hai tuần lễ, toàn bộ phần thịt tươi – nguồn đạm chính chuẩn bị cho cả đội và các anh kiểm lâm – đã vô tình bị các bạn Hòn Tài xách đi trước khi chúng tôi kịp phát hiện ra lúc đã đến Hòn Tre lớn. Và sẽ không có chuyến ca nô nào đi một đoạn đường rất dài để trung chuyển thịt như cách bạn có thể nhờ shipper ghé qua nhà nào đó lấy dùm đồ. Giữa bốn bề trùng khơi, không có cửa hàng tiện lợi nào mở cửa 24/7, cũng chẳng thể gọi một chuyến tàu chỉ để mang một túi thịt ra đảo. Không có thịt, nghĩa là dứt khoát không có thịt. Tôi, với trách nhiệm của một người lớn tuổi hơn và là đội trưởng thoáng chút bối rối, vội vàng bàn tính cùng Thu Hương (nhóm trưởng của cả team 7) xem liệu có phương án nào ứng cứu. Nhưng giữa lúc những cái đầu phố thị bắt đầu rối lên vì sự thiếu thốn vật chất, chú Nam chỉ cười hiền xua tay: “Ủa, làm gì mà phải lo cho mệt. Ở đây tao ăn sao thì tụi mày ăn vậy!”

Câu nói mộc mạc, ngắn gọn ấy như một nhát cắt ngọt lịm gạt phăng mọi thói quen phụ thuộc của người thành thị. Bữa trưa đầu tiên trên đảo dọn ra chỉ có một nồi canh cá nấu măng chua. Thiếu đủ thứ rau thơm cầu kỳ của đất liền, nồi canh chỉ có chút vị chua thanh của măng rừng muối, vài lát ớt cay nồng và những khúc cá biển tươi rói. Trớ trêu thay, trước đó Thùy Linh từng rụt rè bảo: “Em ăn gì cũng được, chỉ sợ mùi tanh nên không quen ăn cá biển”. Và ngay bữa trưa sau anh Vũ kiểm lâm đã kho ngay 1 nồi thịt khi hột vịt với những miếng thịt cuối cùng trong tủ trữ đông của kiểm lâm. Và cũng Thuỳ Linh từ từ qua 2 tuần đã trở nên thích nghi rất nhanh và cũng kiêm luôn vai trò bếp trưởng, khéo léo nhất và chỉ huy khẩu vị bữa ăn của cả gia đình nhỏ. Và như bạn cũng có thể sẽ dần cảm nhận rõ, ở nơi mà mọi sự đủ đầy đều bị tước bỏ, vị giác con người tự khắc tìm về với sự chân thật nhất của tự nhiên. Chúng tôi học được bài học vỡ lòng: Thiên nhiên nơi này không thiếu thốn, nó chỉ vừa đủ để con người nhận ra mình thực sự cần rất ít, nhưng chân thật để cảm thấy ấm lòng.

Ba thế hệ dưới một mái trạm kiểm lâm
Trạm kiểm lâm Hòn Tre Lớn là nơi hội tụ của ba mảnh ghép kiểm lâm thuộc ba thế hệ, với những tính cách và số phận tưởng chừng chỉ có những khúc quanh nghiệt ngã nhất của số phận mới có thể giao thoa. Chúng tôi ở cùng với 3 cán bộ kiểm lâm ở thế hệ 9x, 8x và …6x.. Người giữ nhịp cho hòn đảo là chú Nam, người đàn ông thế hệ 6X đã đi qua bao thăng trầm của rừng và biển Côn Đảo và nhiều nơi khác trên khắp Việt Nam theo câu chuyện của chú kể trong suốt hành trình ở cùng nhau. Chú Nam chẳng bao giờ xưng tụng hay nhận mình là một “cán bộ kiểm lâm” mẫn cán. Ở chú toát ra cái trầm tích của một người đã chiêm nghiệm cuộc đời đủ sâu, đủ dài để xem mọi sóng gió chỉ như một đợt thủy triều lên xuống. Chú ít lời nhưng bao quát tất cả, từ việc để ý từng con nước, dự đoán hướng gió, cho đến việc lặng lẽ chuẩn bị một buổi đưa cả nhóm băng rừng nguyên sinh để chúng tôi hiểu thế nào là sự gai góc, hiểm trở của dải đất này. Chú cũng là người luôn lặng thầm tạo ra cho chúng tôi vô vàn những cơ hội trải nghiệm những thứ mới của những chàng trai cô gái nơi phố thị…

Sống cùng chú Nam từ những ngày đầu chúng tôi ra đảo là Vũ. Chàng trai 8X quê gốc Quảng Nam, mang theo chút phong vị đậm đà của miền Trung vào Côn Đảo. Vũ từng bươn chải kinh doanh quán mì Quảng, làm cà phê, rồi chọn gắn bó với màu áo xanh kiểm lâm. Vũ nhiệt tình, xốc vác và hào sảng, luôn là người khuấy động không khí, biến những bữa ăn đạm bạc thành những buổi hàn huyên ấm cúng. Vài ngày sau, trạm đón thêm Thọ – chàng trai 9X quê đúng vùng Đức Thọ, Hà Tĩnh. Thọ từng luân chuyển qua nhiều điểm chốt khác nhau của Vườn quốc gia Côn Đảo trước khi đặt chân đến Hòn Tre Lớn. Thọ trẻ tuổi, đậm người và tháo vát. Nhóm chúng tôi là một trong những chuyến tình nguyện hiếm hoi có mặt đầy đủ cả ba con người ấy tại trạm.

Ba người đàn ông với một già, hai trẻ chọn sống ở nơi cách xa gia đình hàng chục hải lý, giữa một khung thời gian hoàn toàn đơn độc. Khi cả xã hội ngoài kia vận hành theo ánh sáng ban ngày và nhịp điệu của công nghệ số, thì nhịp sinh học của họ lại phụ thuộc hoàn toàn vào chu kỳ trăng non, trăng tròn và những con sóng đêm đưa rùa mẹ về bờ.
Lắng nghe hơi thở rùa mẹ trong đêm thanh vắng
Sống cùng các anh kiểm lâm, bốn tình nguyện viên chúng tôi nhanh chóng hòa vào một nhịp sống chưa từng có trong trang sách hay màn hình điện thoại. Đó là những đêm không đèn pin, không điện thoại sáng màn hình, bước chân trần men theo mép cát ướt lạnh để tuần tra.

Mọi giác quan khi ấy được mở ra tối đa. Chúng tôi học cách phân biệt tiếng sóng vỗ bờ cát với tiếng thở phì phò nặng nhọc của rùa mẹ khi bò lên bãi đẻ; học cách nhìn vệt xích xe tăng mờ mờ trên cát để lần theo dấu vết của tạo hóa. Trong thời đại mà con người quen bấm nút để máy móc làm thay mọi việc, ở Hòn Tre Lớn, từng quả trứng rùa đều được nâng niu hoàn toàn bằng đôi bàn tay trần. Chúng tôi học cách đào tổ đúng kích thước, đo đạc mai rùa, đếm từng quả trứng còn ấm nóng chất nhờn sinh học để di dời về hồ ấp an toàn trước khi ánh bình minh thiêu đốt hoặc thủy triều cuốn trôi.

Có những đêm mệt nhoài, cả nhóm lỡ ngủ quên, chú Nam hay Vũ lại lặng lẽ đi tuần thay. Nếu đêm ấy bãi vắng, rùa không lên, các chú cứ để mặc cho tụi trẻ thành phố ngủ vùi lấy lại sức. Sự chăm sóc vụng về, không lời của những người đàn ông giữ đảo khiến chúng tôi thấy mình không phải là những vị khách qua đường, mà thực sự là những đứa em, đứa con trở về nhà.

Sau những đêm thức trắng cùng rùa mẹ là những buổi chiều chú Nam dẫn đi mini trek sang cái mỏm ở bên cạnh để nhìn ra Hòn tre nhỏ. Hay buổi sáng phụ các anh dọn từng mảnh rác đại dương trôi dạt vào bãi. Tự nhiên và con người quyện vào nhau trong một chuỗi ngày tĩnh lặng đến mức nghe được cả tiếng thở dài của chính mình sau những tháng ngày mệt nhoài nơi đô thị. Bọn mình bớt nhìn vào màn hình để nhìn sâu vào ánh mắt người đối diện; tìm niềm vui trong những thứ giản dị hàng ngày. Và chúng tôi cũng tìm thấy sự tĩnh tại khi ngắm nhìn những chú rùa con chập chững rẽ sóng về với đại dương; và ai dường như cũng đã gỡ bỏ được những dằn vặt nội tâm để đón nhận sự mộc mạc của cuộc sống bằng một nụ cười an yên, cùng những người đồng hành.
Đêm cuối dưới chân sóng
Thời gian 12 ngày trôi qua tựa như một cái chớp mắt giữa đại dương. Đêm cuối cùng ở Hòn Tre Lớn, biển động nhẹ, mây đen vần vũ phía chân trời báo hiệu những cơn mưa biển bất chợt.
Đêm cuối của Nhóm tình nguyện viên số 7. Và cũng là 7 con người, mỗi con người lại theo đuổi một suy nghĩ khác nhau. Đêm cuối vừa canh rùa, vừa thấp thỏm nhìn trời. Ai cũng mang một tâm trạng giằng xé kỳ lạ. Chúng tôi lo nếu mưa lớn, sóng to thì ca-nô không thể ra đón về đảo lớn đúng hẹn. Nhưng trong sâu thẳm, một góc nào đó trong lòng mỗi đứa lại thầm mong trời đổ một cơn mưa rào thật lớn, để biển giữ chân chúng tôi ở lại thêm vài ngày nữa bên chú Nam, bên Vũ, bên Thọ, bên những người mà 2 tuần ở cùng nhau đã tự nó tạo ra không khí gia đình.

Thế giới này thật thú vị khi chúng ta nhìn nó ở những mắt xích diệu kì như vậy. Mắt xích số 7, chính là chúng tôi giữa số phận mang tên Cứu hộ rùa biển. Và thật ra, không có chúng tôi, Hòn Tre Lớn vẫn sẽ tiếp tục nhịp thở vốn có của nó hàng trăm năm qua. Rùa mẹ vẫn sẽ đêm đêm rẽ sóng lên bờ cát đẻ trứng, và những người lính kiểm lâm vẫn sẽ lặng lẽ soi đèn gánh vác sứ mệnh bảo tồn trong cô đơn kiên định của mình. Nhưng sự có mặt của bốn tình nguyện viên đã mang đất liền ra đảo, thêm vài đôi tay đỡ đần, thêm tiếng cười đùa át tiếng sóng gầm, và quan trọng nhất, mang lại hơi ấm của một gia đình tạm thời nhưng chân thành đến thắt ruột.

Sáng hôm sau, chiếc ca-nô rạch nước tiến vào để đón chúng tôi về lại thế giới hiện đại. Đàn ông ít khi bộc lộ cảm xúc, những người kiểm lâm trên đảo tạm biệt chúng tôi cũng theo kiểu rất lặng lẽ. Và nhìn mọi thứ nhẹ nhõm để mỉm cười và bước tiếp, như là biết bao nhiêu duyên đẹp mà chúng ta may mắn có được trong đời thì đã là thứ đẹp đẽ nhất. Rời hòn đảo nhỏ, tôi hiểu rằng giá trị lớn nhất của những chuyến đi bảo tồn không chỉ nằm ở số lượng cá thể rùa con được thả về biển khơi. Nó nằm ở sự thức tỉnh bên trong mỗi con người. Giữa mênh mông trời nước Hòn Tre Lớn, những người kiểm lâm áo xanh đã dạy chúng tôi biết cách sống chậm lại, biết kính ngưỡng tự nhiên, và biết trân trọng những điều giản dị, thuần khiết nhất của phận người.

Chuyến đi khép lại, nhưng hơi ấm của biển và tình người nơi đây thì vẫn còn ở lại mãi. Chúng tôi thầm biết ơn Ban quản lý Vườn quốc gia Côn Đảo cùng Tổ chức Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên (IUCN) đã bền bỉ duy trì chương trình ý nghĩa này suốt bao năm qua. Không chỉ là một chương trình tình nguyện bảo tồn rùa biển đơn thuần, sự chu đáo và bao dung của Vườn đã trao cho những người trẻ từ đất liền một cơ hội quý giá: được chạm tay vào thiên nhiên nguyên bản, và trên hết, được sống trọn vẹn trong một mái ấm gia đình thực thụ giữa muôn trùng sóng gió.
Cảm ơn những bữa cơm đạm bạc mà rộn rã tiếng cười, cảm ơn sự bảo bọc vụng về mà ân cần của những người cán bộ của VQG. Hòn Tre Lớn nói riêng và Côn Đảo nói chung từ nay với chúng tôi không còn là một điểm đến xa xôi trên hải đồ, mà đã thực sự trở thành một nơi chốn để thương, để nhớ, và để luôn mong có ngày được quay trở về.












Viết từ Côn Đảo
Mùa hè 2026

