Nguyễn Du và câu hỏi ba trăm năm: Khi nỗi đau trở thành một kiệt tác


Có một câu hỏi mà người ta vẫn thường nhắc đến khi nói về Nguyễn Du: “Ba trăm năm nữa, trong thiên hạ, có ai người khóc Tố Như?” Đó không phải là câu hỏi của một người muốn được nổi tiếng. Cũng không hẳn là câu hỏi của một nhà thơ mong tác phẩm mình được đời sau nhớ đến. Trong câu hỏi ấy có một nỗi cô đơn rất sâu. Nguyễn Du không hỏi liệu người ta có đọc mình không. Ông hỏi liệu có ai khóc cho mình không. Khóc, ở đây, không chỉ là thương tiếc. Khóc là hiểu. Là đau cùng. Là nhận ra trong những câu thơ của ông có một phần rất kín của chính mình.

Có lẽ vì vậy mà hơn hai trăm năm sau khi Nguyễn Du mất, Truyện Kiều vẫn không chỉ là một tác phẩm văn học. Nó là một căn phòng chung của tiếng Việt, nơi bao thế hệ người Việt bước vào, soi thấy số phận mình, tình yêu mình, nỗi đau mình, những đoạn trường của mình. Học giả Phạm Quỳnh từng nói: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn.” Có thể người ta còn tranh luận về nhiều điều quanh câu nói ấy. Nhưng không thể phủ nhận một sự thật: rất hiếm có tác giả nào trong lịch sử văn học thế giới mà tác phẩm lại gắn chặt với linh hồn ngôn ngữ của một dân tộc đến như vậy.

Nguyễn Du viết bằng chữ Nôm, bằng thể lục bát, bằng những chất liệu tưởng như bình dị nhất của tiếng Việt. Nhưng từ những chất liệu ấy, ông dựng nên một thế giới mà đến hôm nay, ta vẫn còn bước vào và thấy mình ở trong đó.

Một đời người đi qua loạn lạc

Nguyễn Du, tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, sinh năm 1766 tại Thăng Long, trong một gia đình đại quý tộc. Cha ông là Nguyễn Nghiễm, một đại thần triều Lê, từng làm đến chức Tể tướng. Mẹ ông là bà Trần Thị Tần, người vùng Kinh Bắc, quê hương của quan họ, của ca dao, của những âm điệu trữ tình mềm mại đã thấm sâu vào văn hóa Việt. Nếu nhìn từ bên ngoài, Nguyễn Du có đủ điều kiện để trở thành một trí thức lớn trong một trật tự yên ổn. Ông sinh ra trong dòng họ danh giá, được giáo dục trong môi trường tinh hoa, lớn lên giữa sách vở, thơ ca và quan trường. Nhưng cuộc đời ông không yên ổn.

Năm lên 10 tuổi, Nguyễn Du mất cha. Ba năm sau, ông mất mẹ. Một đứa trẻ 13 tuổi, vừa đủ lớn để cảm nhận mất mát, nhưng chưa đủ lớn để tự chống đỡ đời mình, phải sống nhờ người anh cùng cha khác mẹ là Nguyễn Khản. Có lẽ chính từ đó, trong Nguyễn Du đã hình thành một cảm giác rất đặc biệt: cảm giác của một người thuộc về một gia đình lớn nhưng vẫn cô đơn, sống giữa nhung lụa nhưng vẫn biết thế nào là nương nhờ, đứng trong tầng lớp quý tộc nhưng vẫn cảm được thân phận của người yếu thế.

Rồi lịch sử ập xuống. Cuối thế kỷ 18 là một trong những giai đoạn dữ dội nhất của lịch sử Việt Nam. Triều Lê suy tàn, chúa Trịnh mất quyền, phong trào Tây Sơn nổi lên, Nguyễn Ánh thống nhất đất nước và lập triều Nguyễn. Những gia đình từng gắn bó với nhà Lê như gia đình Nguyễn Du rơi vào thế bấp bênh. Nguyễn Du từng có khoảng mười năm sống lang bạt, về sau thường được gọi là “mười năm gió bụi”. Đó không chỉ là một giai đoạn thất thế của một trí thức quý tộc. Đó là trường học lớn nhất của đời ông.

Một người sinh ra trong quý tộc, sống như người dân thường, rồi sau đó lại làm quan dưới một triều đại mới. Không nhiều nhà văn có cơ hội đi qua nhiều tầng xã hội như thế. Và chính hành trình đó cho Nguyễn Du một đôi mắt hiếm có: đôi mắt nhìn được cả phía trên và phía dưới, cả người cầm quyền và người bị số phận đẩy đi, cả người có chữ nghĩa lẫn người không có tiếng nói. Khi viết Truyện Kiều, Nguyễn Du không nhìn Kiều từ trên cao xuống. Ông không thương hại nàng theo kiểu của một người đứng ngoài. Ông viết về Kiều như một người đã từng bị số phận quật ngã, từng hiểu cảm giác không còn tự quyết được đời mình. Đó là lý do Truyện Kiều đau đến vậy.

Khi thiên nhiên nói thay lòng người

Một trong những điều làm nên bậc thầy Nguyễn Du là khả năng để cảnh vật mang tâm trạng con người. Ta thường gọi đó là tả cảnh ngụ tình. Nhưng nếu chỉ gọi tên kỹ thuật ấy thì hơi khô. Với Nguyễn Du, thiên nhiên không bao giờ là phông nền vô tri. Cảnh vật trong thơ ông biết buồn, biết lo, biết dự cảm, biết run rẩy theo lòng người.

Hãy nhớ cảnh Kiều ở lầu Ngưng Bích: “Buồn trông cửa bể chiều hôm, thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa. Buồn trông ngọn nước mới sa, hoa trôi man mác biết là về đâu.” Nguyễn Du không cần nói Kiều sợ hãi. Ông cũng không cần giải thích Kiều tuyệt vọng. Ông chỉ để ta nhìn thấy một cánh buồm xa xa, một cánh hoa trôi trên dòng nước, một chân trời mờ mịt, một tiếng sóng ầm ầm quanh ghế ngồi. Mỗi cảnh vật là một mảnh tâm trạng. Cánh buồm không biết đi đâu là Kiều. Cánh hoa trôi không biết dạt về đâu là Kiều. Tiếng sóng vây quanh tứ phía là cảm giác không còn lối thoát của Kiều.

Đó là sức mạnh của Nguyễn Du. Ông không bắt người đọc phải hiểu cảm xúc. Ông để người đọc nhìn thấy cảm xúc, rồi tự cảm nhận nó trong lòng mình. Trong nghệ thuật kể chuyện, đây là một bài học rất lớn. Đừng vội nói nhân vật buồn. Hãy cho ta thấy căn phòng của người ấy lúc buồn. Ánh sáng rơi thế nào. Chiếc ghế đặt lệch ra sao. Tiếng mưa ngoài hiên nghe gần hay xa. Một vật thể nhỏ, nếu được đặt đúng chỗ, có thể mang nhiều cảm xúc hơn cả một đoạn giải thích dài.

Nguyễn Du cũng dùng cảnh vật và hình ảnh để báo trước số phận. Khi tả Thúy Vân, ông viết: “Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.” Vẻ đẹp của Vân là vẻ đẹp hài hòa, tròn đầy, được thiên nhiên nhường nhịn. Nhưng đến Thúy Kiều, ông viết: “Làn thu thủy, nét xuân sơn, hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.” Chỉ hai chữ “ghen” và “hờn” đã đủ gieo một điềm báo. Một vẻ đẹp khiến thiên nhiên ghen ghét thì khó có thể sống yên. Chân dung Kiều, ngay từ đầu, đã không chỉ là chân dung nhan sắc. Nó là chân dung số phận.

Mười năm gió bụi là trường học của người viết

Có những năm tháng trong đời ta tưởng như mình không làm được gì. Không tạo ra thành tựu nào rõ rệt. Không có một vị trí ổn định. Không biết mình thuộc về đâu. Nhưng rất có thể chính những năm tháng ấy đang âm thầm viết nên phần sâu nhất trong con người mình. Với Nguyễn Du, “mười năm gió bụi” không chỉ là quãng đời lưu lạc. Đó là thời gian ông sống đủ gần với đời sống thường dân để hiểu nỗi khổ của họ không phải như một khái niệm đạo đức, mà như một kinh nghiệm sống.

Một nhà văn chỉ có thể viết sâu về con người khi từng bị đời sống chạm vào. Không phải chạm nhẹ. Mà chạm đến mức làm mình thay đổi cách nhìn. Nguyễn Du không viết Kiều như một biểu tượng đạo đức. Ông viết Kiều như một con người thật. Một người có tài, có tình, có ham muốn được sống, được yêu, được lựa chọn. Một người có lúc sáng suốt, có lúc sai lầm, có lúc yếu đuối, có lúc kiên cường. Chính vì thế, Kiều không chết trên trang giấy. Kiều sống.

Điều đáng nói là Nguyễn Du không chỉ thương người trong thời của mình. Ông còn khóc cho những linh hồn rất xa. Trong chuyến đi sứ Trung Quốc, ông đi qua nhiều di tích, nhớ đến Khuất Nguyên, Đỗ Phủ, Tiểu Thanh. Những con người ấy cách ông hàng trăm, thậm chí hàng nghìn năm, nhưng ông vẫn thấy trong họ bóng dáng mình. Đặc biệt là Tiểu Thanh, người con gái tài hoa bạc mệnh, chết trẻ, thơ văn còn bị đốt. Từ câu chuyện ấy, Nguyễn Du viết Độc Tiểu Thanh ký và để lại câu hỏi đau đáu: “Bất tri tam bách dư niên hậu, thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?” Ba trăm năm sau, ai sẽ khóc Tố Như?

Khi Nguyễn Du khóc Tiểu Thanh, ông không chỉ khóc cho một người con gái Trung Hoa đã mất. Ông khóc cho những người tài hoa bị vùi dập. Khóc cho văn chương không có số mệnh. Khóc cho chính mình. Và có lẽ, khóc cho tất cả những ai từng cảm thấy mình không được hiểu trong thời đại của mình.

Một nét chấm phá có thể vẽ cả con người

Nguyễn Du cũng là bậc thầy của nghệ thuật chấm phá. Trong Truyện Kiều, có rất nhiều nhân vật xuất hiện không lâu. Nhưng chỉ bằng một vài chữ, Nguyễn Du làm họ hiện lên rõ ràng đến mức ta không thể quên.

Mã Giám Sinh được tả bằng một câu: “Ghế trên ngồi tót sỗ sàng.” Chỉ năm chữ. Nhưng đủ. “Ngồi tót” không phải là ngồi xuống. Nó là một động tác thô, vội, thiếu giáo dưỡng. “Sỗ sàng” là sự trơ trẽn lộ ra ngay trong dáng ngồi. Nguyễn Du không cần viết một đoạn dài để nói đây là kẻ buôn người, kẻ vô học, kẻ coi con người như món hàng. Chỉ cần nhìn hắn ngồi, ta biết hắn là ai.

Từ Hải thì khác. Khi Từ Hải ra đi, Nguyễn Du viết: “Quyết lời dứt áo ra đi, gió mây bằng đã đến kì dặm khơi.” Ở đây không cần một bài diễn văn về chí khí anh hùng. Chỉ một động tác “dứt áo”, một hình ảnh chim bằng giữa gió mây, đã đủ dựng lên khí chất của Từ Hải. Đó là người không thuộc về những căn phòng hẹp, không thuộc về những thỏa hiệp tầm thường. Ông thuộc về dặm khơi.

Một người kể chuyện giỏi hiểu rằng nhân vật không chỉ được tạo nên bằng lý lịch. Nhân vật được tạo nên bằng hành động, cử chỉ, cách bước vào phòng, cách ngồi xuống ghế, cách im lặng, cách rời đi. Nguyễn Du đã làm điều ấy bằng thơ.

Viết về một người để nói với tất cả

Truyện Kiều là câu chuyện của một người con gái. Nhưng nếu chỉ là câu chuyện của một người con gái, nó đã không sống lâu đến vậy. Nguyễn Du mượn cốt truyện từ Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, một tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc. Nhưng khi đi qua tâm hồn Nguyễn Du, câu chuyện ấy trở thành một tác phẩm Việt Nam sâu sắc đến tận cùng.

Người đọc Việt Nam không đọc Kiều như một cô gái xa lạ của thời nhà Minh. Họ đọc Kiều như một người thân. Một người chị, một người em, một người con gái trong gia đình, một phần của chính dân tộc mình trong những thời đoạn bị xô đẩy bởi chiến tranh, quyền lực, tiền bạc và định kiến. Đó là điều kỳ lạ của văn chương lớn. Càng cụ thể, càng phổ quát. Càng viết thật về một thân phận, càng chạm được đến nhiều thân phận khác.

Nguyễn Du không cố viết một biểu tượng đại diện cho tất cả phụ nữ. Ông chỉ viết Thúy Kiều thật đến mức mọi người phụ nữ, và rộng hơn là mọi con người từng khổ đau, đều có thể tìm thấy mình trong đó. Ở đây, chữ “thương” của Nguyễn Du không hẹp. Ông không chỉ thương tài, không chỉ thương sắc, không chỉ thương một số phận oan nghiệt. Ông thương thân. Thương một con người cụ thể đang sống trong thế giới này, với tất cả mong manh, lỗi lầm, khát vọng và phẩm giá của họ.

Đó là một bước tiến rất lớn trong văn học trung đại. Trước Nguyễn Du, người phụ nữ trong văn chương thường hiện lên như biểu tượng đạo đức, như tấm gương tiết hạnh, như hình ảnh để ngợi ca hoặc răn dạy. Với Nguyễn Du, Kiều trước hết là một con người. Và vì là con người, nàng xứng đáng được hiểu.

Nguyễn Du đã làm tiếng Việt đẹp hơn

Có một đóng góp khác của Nguyễn Du mà đôi khi ta nói nhiều nhưng chưa chắc đã cảm hết: ông đã làm tiếng Việt đẹp hơn. Truyện Kiều gồm 3.254 câu lục bát. Lục bát là thể thơ gần gũi nhất với người Việt, đi ra từ ca dao, lời ru, tiếng nói dân gian. Nhưng trong tay Nguyễn Du, lục bát đạt đến một độ tinh luyện hiếm có.

Ông đưa vào đó cả ngôn ngữ bác học của Hán học, cả tiếng nói bình dân của đời sống, cả ca dao, thành ngữ, điển tích, nhạc tính, khẩu ngữ và triết lý. Những lớp ngôn ngữ ấy hòa vào nhau đến mức người đọc không thấy đường nối. Đọc Truyện Kiều, ta thấy tiếng Việt có thể mềm như nước, sắc như dao, sang trọng như gấm, gần gũi như tiếng mẹ nói trong nhà. Một câu thơ có thể vừa là lời kể, vừa là lời than, vừa là triết lý, vừa là nhạc.

“Trăm năm trong cõi người ta, chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.” Câu mở đầu ấy không chỉ giới thiệu một câu chuyện. Nó đặt ra một triết lý nhân sinh. Người có tài thường không thuận mệnh. Cái đẹp thường phải trả giá. Tài năng không bảo đảm hạnh phúc. Và số phận, nhiều khi, không công bằng. Nguyễn Du không viết triết lý để tỏ ra sâu sắc. Ông viết nó vì ông đã sống đủ đau để hiểu điều đó bằng xương thịt.

Đây cũng là một bài học lớn cho người viết hôm nay. Những câu sâu sắc nhất không đến từ ý muốn tỏ ra sâu sắc. Chúng đến từ kinh nghiệm thật, từ những điều đã đi qua đời mình, làm mình thay đổi, rồi lắng lại thành chữ.

Người kể chuyện lớn không trả lời thay chúng ta

Truyện Kiều mở ra bằng một câu hỏi về chữ tài và chữ mệnh. Và dù kết thúc bằng câu: “Thiện căn ở tại lòng ta, chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”, ta vẫn không thể nói rằng tác phẩm đã giải quyết mọi vấn đề. Nếu chữ tâm có thể cứu con người khỏi khổ đau, vì sao Kiều vẫn phải đi qua 15 năm đoạn trường? Nếu người tốt rồi sẽ được đền đáp, vì sao người tốt vẫn bị xô đẩy, bán mua, lừa lọc, chà đạp? Nếu tài năng là điều đáng quý, vì sao tài năng lại thường đi cùng bất hạnh?

Nguyễn Du biết những câu hỏi ấy không dễ trả lời. Ông không ngây thơ. Câu kết của Truyện Kiều không phải một lời giải gọn gàng. Nó giống một điểm tựa mong manh để con người còn có thể tiếp tục sống sau khi đã nhìn thấy quá nhiều đau khổ. Người kể chuyện vĩ đại không phải người đưa ra mọi câu trả lời. Nhiều khi, họ chỉ là người đặt câu hỏi chính xác hơn tất cả chúng ta.

Và câu hỏi của Nguyễn Du vẫn còn đó. Tại sao người tài thường đau? Tại sao con người lương thiện vẫn bị đời vùi dập? Tại sao cái đẹp lại mong manh? Tại sao có những nỗi oan không ai giải được? Tại sao một người viết phải chờ đến rất lâu sau khi mất mới được hiểu? Có lẽ chính vì không trả lời hết, Truyện Kiều mới còn sống. Nó để lại một khoảng trống đủ rộng để mỗi thế hệ bước vào và tự hỏi câu hỏi của mình.

Cái giá của một tâm hồn thấu cảm

Nguyễn Du có một năng lực thấu cảm rất hiếm. Ông khóc cho Tiểu Thanh. Ông nghĩ đến Khuất Nguyên. Ông thương Đỗ Phủ. Ông viết Văn chiêu hồn để gọi những linh hồn không ai nhớ, không ai cúng, không ai gọi tên: người chết trận, kẻ tử tù, người chết đường chết chợ, những phận người bị bỏ lại ngoài rìa ký ức. Đó là một tâm hồn gần như không có biên giới.

Nhưng người thương quá rộng thường cô đơn. Người hiểu quá nhiều thường khó tìm được người hiểu lại mình. Có lẽ Nguyễn Du đã sống với nỗi cô đơn ấy suốt đời. Và vì vậy, câu hỏi “có ai khóc Tố Như” không phải là câu hỏi của một người đòi vinh danh. Đó là câu hỏi của một người chỉ muốn biết liệu đời mình, nỗi đau mình, tiếng nói mình có thật sự chạm được đến ai không.

Câu trả lời, hôm nay, chúng ta đã biết. Có. Không chỉ một người. Không chỉ một thế hệ. Hàng triệu người Việt đã đọc Truyện Kiều, thuộc Kiều, bói Kiều, ngâm Kiều, khóc Kiều, mượn Kiều để nói hộ những điều không nói được. Khi họ khóc cho Kiều, họ cũng khóc cho Nguyễn Du. Khi họ nhận ra mình trong Kiều, họ cũng đang gặp Nguyễn Du ở nơi sâu nhất của tiếng Việt. Ông đã được nghe thấy. Chỉ tiếc là ông không kịp biết.

Viết là một cuộc trò chuyện xuyên thời gian

Nguyễn Du dạy ta rằng nghề viết, suy cho cùng, là một cuộc trò chuyện xuyên thời gian. Ta không biết ai sẽ đọc mình. Không biết họ sẽ đọc vào năm nào, trong căn phòng nào, sau biến cố nào, với vết thương nào trong lòng. Ta cũng không biết câu chữ của mình sẽ còn lại hay biến mất. Nhưng nếu một câu chuyện đủ thật, nếu nó được viết ra không phải để trang trí cho cái tôi, mà vì người viết không còn cách nào khác ngoài việc phải viết, thì sớm muộn gì nó cũng sẽ tìm được người cần nghe.

Có thể không phải hôm nay. Có thể không phải trong đời mình. Có thể phải mất ba trăm năm. Nguyễn Du từng hỏi: “Ba trăm năm nữa, có ai khóc Tố Như?” Câu hỏi ấy không chỉ dành cho ông. Nó cũng là câu hỏi của mọi người viết, mọi người kể chuyện, mọi người từng đặt một phần tâm hồn mình xuống trang giấy và tự hỏi: liệu có ai thật sự nghe thấy mình không?

Có lẽ câu trả lời là: có. Nhưng đừng vội. Những câu chuyện thật cần thời gian để tìm đúng người. Và đôi khi, điều lớn nhất một người kể chuyện có thể làm không phải là được hiểu ngay lập tức, mà là đủ can đảm để nói thật trước khi có ai bảo đảm rằng mình sẽ được hiểu. Nguyễn Du đã làm điều đó. Ông biến nỗi đau riêng thành tiếng nói chung. Biến một thân phận thành thân phận của nhiều người. Biến tiếng Việt thành một ngôi nhà rộng hơn, sâu hơn, đẹp hơn. Và để lại cho chúng ta không chỉ một kiệt tác, mà một bài học căn bản về nghề kể chuyện.

Đừng chỉ viết để được nhớ. Hãy viết để một ngày nào đó, ở một nơi nào đó, có một người đọc lên và nhận ra: mình không cô đơn. Và khi điều đó xảy ra, câu chuyện đã hoàn thành hành trình của nó.

Bình luận về bài viết này