Một cuộc truy nguyên thuật ngữ, từ phòng thu Xô Viết đến bàn dẫn VTV
Khi các bạn thấy một người ngồi sau bàn dẫn, đọc bản tin thời sự lúc 7 giờ tối, thì người đó đang làm nghề gì, và tên gọi chính xác của nghề đó là gì? Câu trả lời bật ra nhanh nhất, gần như phản xạ, luôn là “biên tập viên”. Và đó chính là chỗ mình muốn dừng lại để giải thích kỹ hơn, bởi cái phản xạ ngôn ngữ ấy tiện lợi đến mức khiến người ta quên mất rằng nó vốn dĩ không đúng.
Mình đã nhắc chuyện này nhiều lần, trong lớp học lẫn trong các buổi trò chuyện nghề, và vẫn luôn được mọi người gọi là anh BTV Lê Thắng. Nhưng thói quen thì cứng đầu hơn lý lẽ. Nên thay vì lại đính chính một lần nữa theo kiểu bắt lỗi, mình muốn viết hẳn ra đây một bài truy nguyên tử tế, để những ai quan tâm có thể tự nhìn thấy con đường mà một từ đã đi, từ đâu tới, vì sao lệch, và gọi thế nào cho đúng.

“Biên tập” nghĩa là gì, và tại sao nó không nằm ở trên sóng
Trước khi mượn thuật ngữ nước ngoài để soi chiếu, hãy soi chính tiếng Việt của chúng ta đã. “Biên tập” là một từ Hán Việt, trong đó “biên” mang nghĩa sắp xếp, biên soạn, còn “tập” là gom góp, tập hợp thành tập. Biên tập, hiểu cho tận gốc, là công việc nhào nặn chất liệu thô thành một sản phẩm có hình hài: cắt gọt, sắp xếp, chỉnh sửa, thẩm định, quyết định giữ gì bỏ gì. Người làm việc đó là biên tập viên, và trong tiếng Anh nó tương ứng gọn gàng với chữ “editor”.
Điều đáng nói là bản chất của công việc biên tập nằm ở hậu trường. Nó là công đoạn xảy ra trước khi khán giả nhìn thấy thành phẩm, giống như người dựng phim làm việc trong bóng tối phòng edit để rồi thứ khán giả xem ngoài rạp mới mượt mà. Một editor giỏi ở các đài lớn phương Tây có thể chưa từng một lần xuất hiện trước ống kính trong suốt sự nghiệp, và điều đó hoàn toàn bình thường, bởi giá trị của họ nằm ở phán đoán nội dung chứ không ở gương mặt. Cho nên khi ta lấy đúng cái từ chỉ người làm hậu trường ấy để dán lên trán người đang ngồi trước ba chiếc máy quay, đọc một văn bản mà rất có thể họ không hề tham gia viết, thì về mặt logic ngôn ngữ, ta đã đặt nhầm chỗ hai vai trò gần như đối lập nhau trong dây chuyền sản xuất.

Tấm bản đồ tiếng Anh: mỗi cái tên là một công việc khác nhau
Tiếng Anh truyền hình phân vai rất kỹ, và mỗi thuật ngữ đều gắn với một hành động cụ thể trên sóng. Hiểu tấm bản đồ này rồi thì chuyện gọi tên trong tiếng Việt sẽ sáng ra rất nhiều. Mình xin trình bày thành bảng để dễ đối chiếu, sau đó sẽ bàn sâu vào vài chữ thú vị nhất.
| Thuật ngữ tiếng Anh | Nghĩa gốc và xuất xứ | Bản chất công việc trên sóng | Cách gọi tiếng Việt sát nghĩa nhất |
|---|---|---|---|
| Announcer | Người “thông báo”, vai trò cổ xưa nhất của phát thanh, gắn liền buổi bình minh của radio | Đọc nội dung đã có sẵn kịch bản, xướng tên đài, giới thiệu chương trình | Phát thanh viên, xướng ngôn viên |
| Newsreader (Anh) | Đúng như tên gọi, “người đọc tin” | Đọc bản tin đã được viết sẵn, ít khi tự viết | Người đọc bản tin, phát thanh viên bản tin |
| Newscaster (Mỹ, cũ) | Ghép từ “news” và “broadcaster” | Đọc tin, đôi khi tham gia viết, một danh xưng của thời trước | Người dẫn bản tin |
| News anchor / Anchorman (Mỹ) | Mượn từ điền kinh tiếp sức, “anchor leg” là chặng cuối dành cho vận động viên mạnh nhất | Là trục neo của cả bản tin: giữ nhịp, kết nối các phóng viên hiện trường, phỏng vấn, dẫn dắt và có quyền phán đoán biên tập về thứ tự tin | Người dẫn thời sự chủ chốt, biên tập viên dẫn (khi thực sự có làm nội dung) |
| News presenter (Anh, phổ quát) | Từ ô dù, gộp chung nhiều vai | Trình bày bản tin, mức độ tham gia nội dung tùy chương trình | Người dẫn bản tin |
| Host / Presenter | Chủ nhà, người chủ trì | Dẫn dắt trọn vẹn một chương trình như talk show, tạp chí truyền hình | Người dẫn chương trình |
| MC (Master of Ceremonies) | Chủ tế của một buổi lễ, gốc từ nghi lễ tôn giáo | Chủ trì sự kiện, game show, gala, tạo không khí và giao lưu | Người dẫn chương trình (sự kiện, giải trí) |
| Speaker | Người phát biểu, diễn thuyết | Trình bày một bài nói tại hội thảo, sự kiện, không thuộc về truyền hình | Diễn giả |
| Reporter | Người tường thuật | Thu thập thông tin, tác nghiệp hiện trường, viết và đưa tin | Phóng viên |
| Correspondent | Phóng viên đóng tại một địa bàn cụ thể | Đưa tin từ một khu vực, thường trú xa tòa soạn | Thông tín viên, phóng viên thường trú |
| Commentator | Người bình luận | Đưa ra phân tích, quan điểm chuyên môn về sự kiện | Bình luận viên |
| Editor | Người biên tập | Cắt gọt, thẩm định, quyết định nội dung, chủ yếu ở hậu trường | Biên tập viên |
| VJ (Video Jockey) | Người “cầm trịch” video | Giới thiệu các MV, clip trên kênh ca nhạc | Người dẫn kênh nhạc |
Trong bảng này, chữ đáng để dừng lại lâu nhất chính là anchor, bởi nó chứa đựng cả một triết lý nghề. Người Mỹ mượn chữ này từ môn chạy tiếp sức, nơi “anchor” là vận động viên chạy chặng cuối, thường là người khỏe và bản lĩnh nhất đội, người giữ trách nhiệm về đích. Chữ ấy bước vào truyền hình vào năm 1952, khi đài CBS tường thuật các đại hội chính trị toàn quốc và nhà sản xuất Don Hewitt giao cho Walter Cronkite vai trò “anchor man”, tức người điều phối toàn bộ dòng chảy tin tức, chuyển tiếp giữa các phóng viên, giữ cho cả bản tin dính liền thành một khối. Đây là điểm cốt lõi mà mình muốn bạn đọc ghi nhớ: một anchor đúng nghĩa không phải cái loa đọc chữ, mà là người neo giữ độ tin cậy của cả chương trình, người có thẩm quyền biên tập tại chỗ và ứng biến khi tin nóng ập đến. Nhìn theo cách đó, nếu một người dẫn thời sự của ta thực sự làm đúng công việc của một anchor, thì việc gọi họ gắn với chức năng biên tập lại có phần hợp lý. Vấn đề chỉ nảy sinh khi ta đem cái danh xưng cao quý ấy dán đồng loạt lên cả những người mà công việc duy nhất là đọc trơn tru một văn bản người khác viết.

Người Anh thì kín tiếng và có phần bảo thủ hơn, họ chuộng chữ newsreader, gọi thẳng ra là người đọc tin, không tô vẽ. Thú vị ở chỗ chính chữ này khi sang Mỹ lại mang màu chê bai. Có một câu của Harry Radliffe ở CBS News mà mình rất thích trích cho sinh viên, đại ý ông không hứng thú với những newsreader, những diễn viên đọc tin, vì điều đó làm rẻ rúng bản tin. Trong một câu ngắn ấy gói trọn cả một thứ bậc giá trị nghề nghiệp: đọc hay là một chuyện, nhưng nếu anh chỉ biết đọc mà không hiểu, không viết, không thẩm định được thứ mình đang nói, thì anh chưa chạm tới lõi của nghề báo hình.
Và có một chữ mà người Việt hay dùng sai đến mức mình phải nhắc riêng, đó là speaker. Trong tiếng Anh chuyên ngành, speaker là diễn giả, người phát biểu tại hội thảo, hoàn toàn không nằm trong hệ thuật ngữ của người dẫn truyền hình. Vậy mà mình vẫn thường nghe các bạn trẻ giới thiệu một MC sự kiện là “speaker của chương trình”, một sự lẫn lộn nho nhỏ nhưng cho thấy chúng ta mượn từ nhanh hơn là hiểu từ.

Vì sao lại là “biên tập viên”? Manh mối nằm ở mô hình Xô Viết
Đến đây thì câu hỏi lớn hiện ra: nếu tiếng Anh phân vai rành mạch như vậy, vì sao truyền hình Việt Nam lại chọn đúng cái từ chỉ người hậu trường để gọi người trên sóng? Để trả lời, ta phải đi ngược về cội nguồn của mô hình báo chí mà miền Bắc Việt Nam tiếp nhận từ giữa thế kỷ trước, đó là mô hình báo chí kiểu Liên Xô, và bạn đã rất tinh khi nhận ra gốc rễ này.
Truyền hình Xô Viết có một sự phân vai đặc trưng giữa hai lớp người. Lớp thứ nhất là các “diktor”, tức xướng ngôn viên, những người đọc văn bản chính thức trên sóng, phần lớn là nữ, được công chúng yêu mến như những gương mặt thân thuộc gắn với mái ấm mỗi tối. Nhưng theo các nghiên cứu về truyền hình Xô Viết, chẳng hạn của học giả Kristin Roth-Ey, chính vì các diktor chỉ đọc lại thứ đã được soạn sẵn nên vị thế của họ dần suy giảm suốt thập niên 1960, đến mức có nhà phê bình gọi họ là những hình nhân đọc lên một thứ văn bản vô hồn và mang tính hành chính. Lớp thứ hai, được coi trọng hơn hẳn, là các bình luận viên và người dẫn có tư duy biên tập, những người dùng khả năng của mình để định hình thông điệp, để giáo dục quần chúng và truyền tải đường lối. Trong hệ giá trị ấy, người chỉ biết đọc đứng thấp, còn người biết biên tập, biết định hướng nội dung mới là người đứng cao.
Đây chính là chiếc chìa khóa. Trong mô hình báo chí xã hội chủ nghĩa, chức năng biên tập được đặt ở vị trí trung tâm, vì nó gắn với trách nhiệm chính trị và tư tưởng, chứ không đơn thuần là kỹ thuật chữ nghĩa. Một người xuất hiện trên sóng lý tưởng nhất phải là một nhà báo có khả năng biên tập, một người hiểu và làm chủ được thông điệp, chứ không phải một cái miệng đẹp đọc thuê. Khi Việt Nam xây dựng hệ thống phát thanh và truyền hình quốc gia, chúng ta thừa hưởng nguyên vẹn cấu trúc tổ chức đó. Các đơn vị sản xuất được gọi là “ban biên tập”, và người làm việc trong guồng máy ấy, kể cả khi nhiệm vụ chính hằng ngày là lên sóng, vẫn được xếp vào ngạch, mang chức danh nghề nghiệp là biên tập viên.
Nhìn ở góc độ này, mình cho rằng “biên tập viên” trong truyền hình nhà nước Việt Nam trước hết là một chức danh hành chính, một bậc trong ngạch nghề nghiệp giống như ta có biên tập viên hạng một, hạng hai, hạng ba, chứ không phải là tên gọi mô tả hành động cụ thể của người đó trên sóng. Sự nhầm lẫn tai hại xảy ra khi công chúng, và cả một bộ phận người trong nghề, đánh đồng cái chức danh trong ngạch với cái tên của công việc. Một người có thể mang chức danh biên tập viên trong hồ sơ cán bộ, trong khi công việc họ đang làm trước ống kính lại thuần túy là dẫn hoặc đọc. Hai thứ đó vốn không mâu thuẫn nếu ta phân biệt rạch ròi rằng một bên là ngạch bậc, một bên là chức năng.

Mớ bòng bong ngay trong tiếng Việt của chúng ta
Điều làm mình thấy vừa buồn cười vừa suy nghĩ là chính kho từ vựng tiếng Việt đã tự tố cáo sự thiếu nhất quán của mình. Nếu bạn mở trang từ điển bách khoa mở tiếng Việt và tra mục “phát thanh viên”, bạn sẽ đọc được một câu thừa nhận thẳng thắn đến bất ngờ, rằng cùng một tính chất công việc như nhau, nhưng người biên tập và chuyển tải thông tin ở đài phát thanh thì được gọi là phát thanh viên, còn người làm đúng công việc ấy ở đài truyền hình lại được gọi là biên tập viên. Nói cách khác, chính hệ thống của chúng ta công nhận rằng đây là một nghề bị gọi bằng hai cái tên khác nhau chỉ vì nó xảy ra trên hai loại sóng khác nhau, một sự tùy tiện mà không nền báo chí phân vai chặt chẽ nào chấp nhận được.
Chưa hết, tiếng Việt còn từng có một chữ đắt hơn nhiều mà chúng ta gần như đã bỏ quên ở miền Bắc, đó là xướng ngôn viên. Chữ này vẫn sống khỏe trong cách dùng của người miền Nam trước đây và ở một số đài Việt ngữ hải ngoại, và nếu bạn để ý thì nó là bản dịch sát nghĩa gần như hoàn hảo của “announcer”. Xướng là cất tiếng lên, ngôn là lời, xướng ngôn viên là người cất lời, người xướng đọc. Nó gọi đúng bản chất công việc của một người đọc bản tin, không hơn không kém, không mượn oai của chức năng biên tập. Mình thấy hơi tiếc khi một chữ chuẩn xác như vậy lại bị mai một, trong khi cái chữ lệch nghĩa hơn thì phổ biến khắp nơi.
Rồi còn chữ MC nữa. Ít người biết rằng theo ghi chép, người đầu tiên phổ biến cách gọi MC để chỉ người dẫn chương trình ở Việt Nam là nghệ sĩ Việt Thảo của trung tâm Vân Sơn vào khoảng thập niên 1990. Từ một sân khấu hải ngoại, hai chữ viết tắt ấy lan về nước rồi bám vào tất cả mọi thứ, từ người dẫn đám cưới, dẫn hội nghị, cho đến người đọc bản tin, khiến cho ranh giới giữa một người chủ trì sự kiện giải trí và một người làm báo hình gần như bị xóa nhòa trong nhận thức đại chúng.

Vậy rốt cuộc nên gọi thế nào cho chuẩn?
Sau ngần ấy đường vòng, mình xin nói rõ quan điểm của một người đã đứng ở nhiều vị trí trong cái guồng máy này, từ dẫn bản tin buổi sáng ở đài, làm phóng sự ngoài hiện trường, cho tới dẫn talk show và giảng dạy về chính những khái niệm này.
Nguyên tắc gốc rất giản dị, đó là gọi tên theo công việc mà người ta thực sự làm, chứ không theo chức danh trong bảng lương, cũng không theo thói quen cho tiện miệng. Nếu một người chỉ đọc bản tin do người khác viết, thì họ là người đọc bản tin, là phát thanh viên bản tin, hoặc dùng lại chữ đẹp mà ta đã lãng quên là xướng ngôn viên. Gọi vậy không hề hạ thấp họ, bởi đọc hay là một tài năng thật sự, và những giọng đọc vàng như Kim Tiến, Hoàng Yến hay Hà Phương đã chứng minh rằng nghề xướng đọc tự nó là một nghệ thuật đáng kính trọng.
Nếu người đó không chỉ đọc mà còn tự khai thác, tự viết, tự thẩm định tin bài, tham gia quyết định thứ tự và cách kể của bản tin, rồi đồng thời trực tiếp lên sóng dẫn dắt, thì lúc ấy họ đang làm công việc của một nhà báo kiêm người dẫn, và chức danh biên tập viên mới thực sự phản ánh đúng phần chìm của tảng băng. Đây chính là thực tế của phần lớn những người dẫn thời sự kỳ cựu ở VTV hiện nay, những người vừa tổ chức sản xuất vừa lên hình, nên với riêng họ, chữ biên tập viên không sai. Cái sai nằm ở chỗ ta dùng nó như một tấm huân chương gắn đại trà cho bất cứ ai xuất hiện sau bàn dẫn.
Còn nếu người đó chủ trì một sự kiện, một game show, một gala, dẫn dắt và giao lưu để tạo không khí, thì họ là người dẫn chương trình, và MC là cách gọi chấp nhận được trong ngữ cảnh giải trí. Nhưng xin đừng gọi một người đang dẫn bản tin thời sự chính luận là MC, bởi cái chữ mang mùi sân khấu ấy vô tình kéo tụt tính nghiêm cẩn của báo chí xuống ngang hàng với một buổi tiệc.
Mình không ảo tưởng rằng một bài viết có thể sửa được một thói quen đã ăn sâu mấy chục năm. Ngôn ngữ vận hành theo số đông chứ không theo lý lẽ của người trong nghề, và rất có thể mười năm nữa cả xã hội vẫn cứ gọi người đọc bản tin là biên tập viên như một lẽ đương nhiên. Nhưng mình tin rằng ít nhất những người làm nghề, những người dạy nghề, và những bạn trẻ đang bước vào nghề thì nên biết rõ mình đang đứng ở đâu trên tấm bản đồ ấy. Bởi vì gọi đúng tên một công việc, xét cho cùng, cũng là một cách tôn trọng chính công việc đó, và tôn trọng cái ranh giới mong manh nhưng thiêng liêng giữa người chỉ mượn giọng để đọc và người dùng cả tư duy để làm báo.

Bài viết dựa trên nghiên cứu thuật ngữ báo chí truyền hình từ nhiều nguồn, đối chiếu cách dùng tiếng Anh, mô hình truyền hình Xô Viết và thực tiễn tại Việt Nam.

