Có một bài kiểm tra rất nhanh để biết một người viết đã thật sự vào nghề hay chưa: hỏi họ đặt nỗi đau vào đâu trong câu. Người mới sẽ đặt vào tính từ. Anh ta viết: người cha ấy thật tàn nhẫn.
Người đã vào nghề sẽ đặt vào một chi tiết mà mắt có thể nhìn thấy. Nguyễn Ngọc Tư viết:
“Cha vẫn thường đánh chị em tôi, thường đánh khi vừa ngủ dậy.”
Chỗ đau không nằm ở chữ “đánh”. Nó nằm ở “khi vừa ngủ dậy”. Bốn chữ đó cho biết đây không phải cơn giận bùng lên rồi tắt. Đây là một thói quen. Người đàn ông mở mắt, nhìn thấy con, nhớ ra vợ mình đã bỏ đi, và ông đánh. Ngày nào cũng vậy. Bỏ bốn chữ ấy đi, câu văn vẫn đúng ngữ pháp và mất sạch sức nặng.

Người cha nói một câu, và câu đó gỡ đi một rào cản
Nguyễn Ngọc Tư sinh năm 1976 ở Đầm Dơi, Cà Mau, trong một gia đình nông dân. Chị nghỉ học sớm vì nhà khó, ở nhà chăm ông ngoại và phụ cha mẹ việc đồng. Người bảo chị viết là cha chị. Ông nói: nghĩ gì, viết nấy, viết những gì con đã trải qua. Câu đó không dạy chị một kỹ thuật nào. Nó gỡ đi một rào cản, cái rào cản mà rất nhiều người viết trẻ vẫn còn mắc kẹt: ý nghĩ rằng muốn viết được thứ đáng đọc thì phải có một cái đời khác, lớn hơn, xa hơn cái đời mình đang sống. Những truyện đầu tay của chị được cha gửi đến tạp chí Văn nghệ Bán đảo Cà Mau, và được đăng. Sau đó chị vào làm văn thư ở đó, rồi học làm phóng viên.
Chị kể về nơi mình viết: cái chợ ngay trước nhà, tiếng máy tàu chạy bình bịch sau lưng. Không phòng riêng. Không thư viện. Chính chị cũng nói rằng ở quê sách vở quá ít ỏi, nên vốn nghề của chị thường là tự nó đến. Toàn bộ nền tảng nghề của người này đến từ chỗ thiếu. Và cái thiếu ấy không được lấp bằng kiến thức vay mượn, mà bằng việc nhìn kỹ hơn tất cả mọi người vào đúng mảnh đất đang có trước mặt.

Tự do trong trang viết, kỷ luật ngoài trang viết
Nguyễn Ngọc Tư mô tả cách viết của mình rất gọn: viết là viết, bất kỳ lúc nào, không sắp đặt, không bố cục, mạch suy tưởng cứ thế đoạn sau cuốn theo đoạn trước. Nghe qua thì đó là lời mời gọi vứt bỏ mọi kỷ luật. Nhưng đọc kỹ hơn thì ngược lại. Trong một cuộc phỏng vấn với báo Tiền Phong, chị nói mình chỉ tập trung vào hai thứ, là viết và gia đình. Chị đọc có chọn lọc, không đọc cho vui. Chị tránh mạng xã hội, vì sợ mình bị phân mảnh, chẻ nhỏ. Chị đưa ra một hình ảnh: lúc nào cũng muốn gom về một mối, kiểu như cục đất to thì cú ném hay cú rơi cũng uy lực hơn. Chị tự nhận mình như con ngựa bị che mắt, chỉ nhìn về một phía.
Đây là một cuộc trao đổi rất rõ ràng. Trang viết được cho hoàn toàn tự do, và cái giá của sự tự do đó được trả bằng một đời sống bị siết chặt tới mức khắc nghiệt. Rất nhiều người trong chúng ta làm ngược lại. Đời sống thì lỏng lẻo, mỗi ngày mở hai mươi cái tab, ba dự án song song. Rồi khi ngồi xuống viết, chúng ta cố cứu vãn bằng một cái outline thật chặt.
Nguyễn Ngọc Tư nói, một cách gián tiếp, rằng outline không cứu được gì. Thứ quyết định là cục đất có to hay không.
Cái ngã ba mà nhà văn nào cũng phải đứng
Trong Cánh đồng bất tận có một cảnh hai đứa trẻ nấp trong kẹt bồ lúa và từ đó nhìn thấy mẹ mình với một người đàn ông khác. Chính tác giả đã tự chất vấn về cảnh đó. Chị kể rằng đã có lần chị nghĩ, sao lại để hai đứa bé ngồi trong kẹt bồ lúa mà bắt gặp mẹ nó làm gì. Nhưng rồi chị tự trả lời: nếu chúng chỉ nhìn thấy mẹ nắm tay ông kia đi dung dăng trên đường quang đãng, thì đó có còn là nỗi ám ảnh, là bi kịch trong tâm hồn chúng không?
Đây là một quyết định nghề, và nó lạnh lùng. Chị đã có sẵn phương án nhẹ tay. Chị đã có cơ hội thương nhân vật của mình. Và chị từ chối, vì phương án nhẹ tay không để lại vết.
Bên trái ngã ba là góc nhìn khiến người đọc dễ chịu. Bên phải là góc nhìn đúng. Chị rẽ phải.

Cái giá
Tháng 11 năm 2005, Nhà xuất bản Trẻ phát hành Cánh đồng bất tận.
Ngày 27 tháng 3 năm 2006, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Cà Mau ra báo cáo số 35, đề nghị Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh kiểm điểm phê phán tác giả một cách nghiêm khắc. Ngày 12 tháng 4, cơ quan này ký tiếp báo cáo số 41. Kết luận, theo nguyên văn được báo Tuổi Trẻ và Tiền Phong đăng lại khi đó, cho rằng truyện ngắn này thiếu tính giáo dục cho xã hội và thiếu tính định hướng chân, thiện, mỹ.
Ở góc độ nghề, điều đáng chú ý không phải là chính trị. Nó là một sai lầm rất cũ trong cách đọc: người ta đọc một tác phẩm hư cấu như đọc một bản phóng sự. Họ soi địa danh. Họ đếm nhân vật xấu. Họ hỏi dân Cà Mau có phải như vậy không.
Giới nghề thì đứng về phía chị. Nhà văn Dạ Ngân, người liên quan tới việc biên tập bản thảo ở báo Văn Nghệ, kể rằng truyện được đăng dài kỳ mà không phải sửa một câu, một chữ nào.
Cuối năm 2006, Cánh đồng bất tận nhận giải thưởng chính thức của Hội Nhà văn Việt Nam. Năm 2008, chị nhận Giải thưởng Văn học ASEAN. Tác phẩm được dịch ra tiếng Hàn, Anh, Thụy Điển, Pháp, Đức. Năm 2018, bản tiếng Đức mang về cho chị giải LiBeraturpreis tại Hội sách Frankfurt. Cái công văn định làm nhỏ tác phẩm lại, cuối cùng đã làm nó lớn lên gấp nhiều lần.
Nhưng đó là kết quả, không phải bài học. Bài học thật thì khó chịu hơn: chị không biết trước điều đó khi chị chọn góc nhìn. Không ai biết trước. Bạn chọn góc đúng, rồi bạn chịu.

Vì sao cái ác nhiều đến vậy
Người ta hay gọi Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn của nỗi buồn. Chính chị đã trả lời câu đó, và câu trả lời của chị là một bài giảng về kỹ thuật.
Chị nói rằng chị động tới cái ác vì có nó thì cái thiện, sự thương yêu, sự yếu ớt mong manh của những tình cảm tốt đẹp mới nổi lên được, để người ta nhìn thấy rõ hơn.
Đây là kỹ thuật hội họa. Không ai vẽ được một điểm sáng trên nền trắng.
Và toàn bộ nguyên tắc đó dồn vào đoạn kết. Cô gái nằm trên đồng, thân thể nhàu nhừ. Không ai bị trừng phạt. Không có công lý. Nguyễn Ngọc Tư không giải cứu ai cả. Chị chỉ cho nhân vật của mình đúng một hành động: đặt tên. Thương, Nhớ, hay Dịu, Xuyến, Hường. Đặt tên là hành động của người còn tin vào tương lai. Người ta không đặt tên cho thứ mình không định giữ.
Trăm trang bóng tối trước đó tồn tại để làm nền cho đúng một động tác nhỏ ấy. Nếu bóng tối nhạt hơn, câu kết này sẽ chỉ là một câu ngọt ngào. Vì bóng tối đen đến thế, nó thành một tuyên ngôn.

Chữ “quăng”
Còn một điều nữa, và đây là thứ khiến không thể nhầm chị với bất kỳ ai.
Đọc hết Cánh đồng bất tận, bạn sẽ không tìm thấy một câu nào của tác giả đứng ra phán xét nhân vật. Không có bài học đạo đức nào được gắn vào cuối chương. Người kể chuyện luôn ngồi ngang tầm với người được kể. Làm được điều đó là nhờ ngôn ngữ. Phương ngữ Nam Bộ trong văn chị không phải là gia vị rắc lên cho có màu địa phương. Nó là hệ thống. Nhân vật nghĩ bằng thứ tiếng đó, nên nhân vật buồn bằng thứ tiếng đó.
Trong truyện Cải ơi, cô gái tên Diễm Thương bị cha mẹ bỏ rơi nói: còn tui, người ta quăng ở đây mười tám năm, mà không ai trở lại tìm, tui chờ hoài. Chữ “quăng”. Không phải “bỏ”. Không phải “để lại”. Quăng, như quăng một món đồ.
Không nhà văn nào ngồi ở Hà Nội hay Sài Gòn nghĩ ra chữ đó bằng lý trí được. Chữ đó phải đến từ tai.
Và đây là chỗ những người làm truyền thông chúng ta hay thất bại nhất. Chúng ta về vùng sâu, quay một phóng sự, gặp một nhân vật khó khăn, rồi đem ngôn ngữ của mình về, viết lời bình bằng giọng của mình, và gọi nhân vật là “họ”. Nguyễn Ngọc Tư không bao giờ gọi ai là “họ”. Chị có một câu mà tôi cho là nguyên tắc gốc của cả nghề viết của chị: dân chỗ tôi hay có câu thấy vậy mà không phải vậy.
Muốn biết cái “không phải vậy” nằm ở đâu, bạn phải ngồi xuống ngang tầm mắt người ta. Đứng cao hơn thì chỉ thấy được cái “thấy vậy”.
Bạn không cần một cuộc đời lớn để viết thứ lớn. Từ căn nhà trước chợ và tiếng máy tàu chạy sau lưng, Nguyễn Ngọc Tư đã kiến tạo văn nghiệp từ những cái thiếu như thế nào? Bạn có thể chọn lắng nghe podcast audio của tập 32 – Series Bậc thầy kể chuyện ở đây:

